
TÂN NIÊN BÍNH NGỌ TƯ MĂ PHỤNG CẦU.

“Khúc đâu Tư Mă phụng cầu. Nghe ra như oán như sầu phải chăng” (Kiều).
Khúc ca này do tích Tư Mă Tương Như - Trác Văn Quân vốn là khúc nhạc tỏ t́nh, nhưng qua tay Kiều trở thành âm thanh "oán sầu", báo trước cuộc đời "Đoạn trường" (đau đứt ruột) của nàng.
‘Tư mă phụng cầu’ hoặc chính xác ‘Phượng cầu hoàng, là điển tích chim Phụng (Phượng trống) t́m chim Hoàng (là Loan, Phượng mái). (Cầu 求 = T́m kiếm / xin xỏ).
Nguyên tác: “Hữu nhất mỹ nhân hề, kiến chi bất vong. Nhất nhật bất kiến hề, tư chi như cuồng…”
______
Người Việt biết nay năm Ngọ song lớp trẻ ít kẻ biết về thứ tự các năm trong lịch chu kỳ 12 năm (1 giáp) dùng ở các nước Đông Á, kết hợp với 10 Can (Giáp, Ất,...) tạo thành chu kỳ 60 năm (Hoa giáp).
Ngọ là tên con giáp của ngụa (mă). Ngưa có nhiều đức tính: - trung thực (thẳng như ruột ngựa), - đoàn kết, chia sẻ hoạn nạn (một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ), - kết bạn (ngưu tầm ngưu, mă tầm mă), - thân thiện với mọi đối tượng nhưng không hề đánh mất tinh thần tranh đua (ngựa về ngược), - ḷng biết ơn sâu sắc, chung thủy (làm thân trâu ngựa đền ngh́ trúc mai. Kiều) - nhanh nhẹn, tận tụy với công việc (chiến mă, dịch trạm/nhà trạm thời xưa).
Ngựa c̣n là biểu tượng của sự giàu sang (lên xe xuống ngựa), quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng, làm nên sự nghiệp (công lao hăn mă, mă đáo thành công). .
Một số h́nh ảnh ít gặp, có ư nghĩa ẩn dụ sâu sắc:
– Tứ mă phanh thây (h́nh phạt man rợ, lỗi ở người). – Ngựa Hồ hí gió bắc (ḷng nhớ quê cũ). - Da ngựa bọc thây (tử trận). – Dừng ngựa trước vách đá (biết ngừng đúng lúc). – Tâm viên ư mă (tâm trí bất định). Thanh mai trúc mă (bạn t́nh thuở thơ ấu). - Chỉ lộc vi mă (cưỡng bức ngôn từ).
- Và không phải ngựa: hà mă (河馬) ở sông, hải mă, sea horse (海馬) ở biển, bọ ngựa trên lá cây. Vật dụng: bộ (ván) ngựa. Sinh vật: mă nghị (馬蚁) con kiến. Thực vật: mă đậu. Linh tinh: mật mă, đồ mă.
Mỗi lần năm Ngọ đến, như năm nay Bính Ngọ.là một dịp để các chuyện xưa về ngựa được nhắc lại.
Những điển tích liên quan đến ngựa có thể trực tiếp hoặc gián tiếp.
+ Điển tích trực tiếp vể ngựa (mă 馬).
+ Chiến mă Mông Cổ là giống ngựa bền bỉ di chuyển nhanh của Thanh Cát Tư Hăn ở thế kỷ XIII.
+ Các trường hợp cá thể: Bucephalus, con ngựa huyền thoại của Alexander Đại đế. + Marengo: chú ngựa Ả Rập của Napoleon Bonaparte + Ngựa Đích Lư của Lưu Bị. + Tuyệt Ảnh của Tào Tháo. + Xích Thố của Lă Bố, Quan Vũ. + Dạ Chiếu Ngọc Sư Tử của Triệu Vân. + Ô Vân Đạp Tuyết (Trương Phi).
Bàn: Năm 1971: 1.000 USD mua được 20 lạng vàng. Năm 2008 chỉ mua được một lạng, 1000 lạng là một triệu USD để mua một con thiên lư mă. Bằng giá một xe hơi siêu sang cũng vào thời đó.
+ Chuyện Tái ông thất mă (mất ngựa) ngụ ư thâm thúy cụ thể: Trong họa có phúc, trong phúc có họa.
Sự đời khó lường: May mắn hay rủi ro chỉ là tạm thời, không ai biết trước được tương lai.
+ Điển tích gián tiếp vể ngựa (mă 馬)..
+ Thánh Gióng Phù Đổng Thiên Vương, đời vua Hùng vương thứ sáu. Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt,, mang giáp sắt, đội nón sắt, cầm gươm săt, đánh tan giặc Ân xâm lăng, cướp bóc rồi bay về trời. Ngựa Thánh cưỡi là ngựa sắt, không phải ngựa thật.
+ Trong thần thoại Hy Lạp, con ngựa gỗ thành Troy chứa binh sĩ Hy Lạp đánh chiếm thành Troy.
+ Điển
tích chức vụ, liên quan đến ngựa (mă).
- Pḥ mă: 駙馬, là chức vị người chồng của Công chúa, tức là con rể của Hoàng đế trong văn hóa của Trung Quốc, Việt Nam và Hàn Quốc. Từ này ban đầu chỉ chức quan trông coi xe ngựa hoàng gia.
- Bật mă ôn 弼馬溫: chức vụ giữ ngựa thiên đ́nh. Bật mă ôn Tôn Ngộ Không, Tề thiên Đại thánh.
+ Điển tích danh tính, dính dấp đến ngựa (mă). Họ tên ngựa nhưng là người. Trong lịch sử Trung Quốc, họ Mă (馬=ngựa) và họ kép có chữ Mă như Tư Mă (司馬) gắn liền với nhiều nhân vật kiệt xuất từ quân sự, sử học đến văn hóa- Theo thứ tự thời gian: Tư Mă Thiên, đầu thời nhà Hán viết bộ Sử kư Tư Mă Thiên. - Tư mă Tương Như, danh sĩ đời Tây Hán, các sáng tác nổi danh gần 9 thế kỷ trước Lư Bạch, Đổ Phủ đời Thịnh Đường. - Mă Viện 馬援 Phục Ba tướng quân, danh tướng đời Đông Hán và các tướng lĩnh họ Mă khác. - Tư Mă Ư: 司馬懿 đoạt ngôi nhà Tào Ngụy, chấm dứt thời Tam Quốc.
Chữ nho, Mă (馬) là ngựa. Tư (司) là chỉ huy, cai quản. Vd Tư lệnh (司令) các sư đoàn, quân đoàn...
Tư mă là một chức quan cao cấp trong thời phong kiến Trung Quốc, từ đờ́ nhà Chu, thống lĩnh binh mă, nắm giữ quốc pḥng. Chức danh này thường đứng dưới Tể tướng.
Thời Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc được gọi là Đại tư mă.
Trong lịch sử Trung Quốc, Tư mă là nhân vật thường nắm quyền lực thực tế của triều đ́nh. Tư Mă Ư đoạt cơ nghiệp cuẩ Tào Tháo, lập nhà Tây Tấn .
Vào thời trung kỳ nhà Đường (618-907), chức vụ Tư mă chỉ là trợ thủ của các quan Thứ sử Bạch Cư Di, tác giả bài Tỳ Bà Hành là Giang Châu tư mă (Tỳ bà hành: Giang châu tư mă đẫm màu áo xanh).
Họ Tư Mă: Theo lịch sử, đời Chu Tuyên Vương, người giữ chức Tư Mă có công lớn nên vua cho phép lấy chức danh làm họ, từ đó h́nh thành họ Tư Mă.
Cùng với tư mă coi về binh, các chức vị: tư đồ, tư không, tư khấu tương tự bộ lại, bộ công, bộ h́nh.
Truyện về ngựa là nhiều. Chọn năm ngưa để kể về Tư Mă Tương Như ‘phụng cầu’ là thích hợp..
+ Tư Mă Tương Như司馬相如 (179 TCN - 117 TCN), tự Trường Khanh, người ở Thành Đô đời nhà Tây Hán,TCN. Người rất đa tài, văn hay, đàn giỏi.Trong khi đến đất Lâm Cùng, Tương Như vốn sẵn quen với Vương Cát là quan lệnh ở huyện, nên đến chơi. Cát lại mời Tương Như cùng đi dự tiệc ở nhà Trác Vương Tôn, vốn là viên ngoại đại phú gia trong huyện.
Nghe tiếng Tương Như đàn hay nên quan huyện cùng Trác Vương Tôn yêu cầu đánh cho một bài.
Họ Trác vốn có một người con gái rất đẹp tên Văn Quân, c̣n nhỏ tuổi mà sớm góa chồng, lại thích nghe đàn. Tương Như được biết, định ghẹo nàng, nên vừa gảy đàn vừa hát khúc “Phượng cầu hoàng”.
Trác Văn Quân nghe được tiếng đàn, lấy làm say mê, đương đêm bỏ nhà đi theo chàng. Trác ông tức giận, quyết định từ con. Đôi trai gái đó mở một quán nấu rượu. Vợ chồng cùng cặm cụi làm.ăn.
Về sau Trác ông hồi tâm, trở lại giúp đỡ các con.
Khúc “Phương cầu hoàng” như sau: (Bản dịch của Trương Việt Linh - 15/7/2025).
Có người con gái
đẹp xinh, Mới trông ḷng đă nảy t́nh yêu
thương.
Một ngày không gặp được nàng, Trong ḷng
rạo rực như đang phát cuồng.
Phượng bay lượn chốn tầng không, Bốn
phương tám hướng cốt mong t́m hoàng.
Buồn thay chẳng gặp giai nhân, Tường đông
lạnh lẽo t́m không thấy nàng.
Ḷng ta đành mượn tiếng đàn, Khúc tơ bày
tỏ can tràng cùng ai.
Bao giờ mới được kết đôi, Bao
giờ mới tỏ được lời trăm năm?
Ḷng ta yêu trộm thương thầm, Sợ thay
chẳng được xứng tầm cùng ai!
Với nàng không thể lượn bay, Mối sầu
quằn quại thân này héo khô”. (1).
Bài thơ khúc đàn này biểu tượng cho t́nh yêu say đắm, chủ động và sự đồng điệu tâm hồn, kể về h́nh ảnh chim phượng hoàng đi t́m bạn. Tư Mă Tương Như được ví như chim phụng cầu hoàng.
Trác Văn Quân thời Tây Hán xa xưa cũng không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp "chim sa cá lặn" mà c̣n giỏi đàn cầm và làm thơ (là tác giả bài “Bạch đầu ngâm” nổi tiếng, lưu truyền đời này qua đời khác). .
Mối t́nh đẹp, dám bỏ trốn theo tài tử nghèo Tư Mă Tương Như qua điển tích khúc “Phượng cầu hoàng" khiến nàng trở thành biểu tượng cho sự tự do yêu đương. Trác Văn Quân được coi là h́nh mẫu phụ nữ vừa có sắc, vừa có tài, vừa có cá tính mạnh mẽ trong xă hội phong kiến.
Chuyện t́nh này giữa hai thi nhân bậc nhất đời Tây Hán nổi tiếng đến nỗi nó đă trở thành là một điển cố danh tiếng được nhắc đến nhiều trong thơ ca cổ điển và hiện đại..
Trong các t́nh sử của vua chúa Trung Hoa cổ xưa các tuyệt đại mỹ nhân Đát Kỷ, Tây Thi, Ngu Cơ, Điêu Thuyền, Dương Quư Phi rốt cuộc đều thọ thảm tử. Trong dân gian các truyện t́nh Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài đời Đông Tấn, Thôi Hộ (Đào hoa y cựu tiếu đông phong), đời Đường Thôi Oanh Oanh (Tây Sương kư), đời Nguyên th́ sự t́nh éo le, kéo dài năm, tháng. Riêng truyện Tư Mă Phụng Cầu là thơ, là nhạc, là giọng ca, tiếng đàn trầm bổng tuyệt vời, là tiếng sét ái t́nh, kết thúc nội nhật, và điều quan trọng là các mối liên quan kết nối, tô điểm cho năm Ngọ. Thật tuyệt vời và cảm xúc, các năm “ngựa, mă” đă góp lời trên văn đàn thi ca với khúc thơ nhạc bất hủ Tư Mă Phụng Cầu.
Lê Bá Vận.
_____
有一美人兮,見之不忘。 Hữu nhất mỹ nhân hề, kiến chi bất
vong.
一日不見兮,思之如狂。 Nhất nhật bất kiến hề, tư chi
như cuồng.
鳳飛翱翔兮,四海求凰。 Phượng phi cao tường hề, tứ
hải cầu hoàng.
無奈佳人兮,不在東牆。 Vô nại giai nhân hề, bất tại đông
tường.
將琴代語兮,聊寫衷腸。 Tương cầm đại ngữ hề, liêu
tả trung tràng.
何時見許兮,慰我彷徨。 Hà thời kiến hứa hề, uư ngă bàng hoàng.
願言配德兮,攜手相將。 Nguyện ngôn phối đức hề, huề
thủ tương tương.
不得於飛兮,使我淪亡。 Bất
đắc ô phi hề, sử ngă luân vong.
Ư nghĩa văn hóa "Phụng Cầu Hoàng" là một tác phẩm quan trọng trong văn hóa âm nhạc Trung Quốc, thể hiện sự kết hợp hài ḥa giữa âm nhạc và t́nh yêu. Tác phẩm này không chỉ là một bản nhạc tuyệt đẹp mà c̣n là một biểu tượng của t́nh yêu lăng mạn và sâu đậm
Nguồn gốc của nó gắn liền với lịch sử và văn hóa Trung Quốc, và nó vẫn tiếp tục được biểu diễn và trân trọng trong âm nhạc truyền thống ngày nay.
______