
ĐÔI BỜ
Phần I
Có những ḍng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua băi cát mịn, những băi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những ḍng sông, không hiểu v́ sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh Chúa Nguyễn, đứng nh́n nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và những ánh mắt thù nghịch với mă tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh phúc, giáo dục nhân bản và tự do xă hội. Hai ḍng nước ấy, cách nhau hàng trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nh́n nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau.
Giữa những đôi bờ ấy, dân Việt vẫn đứng đó, với một vết thương đă liền da nhưng vẫn nhói, vẫn buốt. Đặc biệt, sông Bến Hải– cầu Hiền Lương trở thành một nỗi nhớ triền miên, kèm theo mất mác chia ĺa mà có khi cả đời vẫn chưa hàn gắn. Câu chuyện Đôi Bờ không chỉ là chuyện về địa lư của vĩ tuyến 17, không chỉ ngăn cách hai miền đất, hai chính thể. Chúng c̣n chia ĺa những điều mong manh nhất của kiếp người. Với những danh từ mới: Bên Dinh Bên Tề, Di Cư Tập Kết, Tàu Há Mơm, Vượt Sông Vượt Tuyến, Bức Màn Sắt, Quốc Gia / Cộng Sản, Tự Do Dân Chủ / Độc Tài Đảng Trị, Khẩn Hoang Lập Ấp / Đấu Tố - Cải Cách Ruộng Đất. Khiến sự chia cách càng thêm éo le. Có những đôi bạn lớn lên cùng nhau, rồi một ngày trở thành hai phía của lịch sử. Có những mối t́nh vừa chớm nở đă bị ḍng nước lạnh lùng cuốn đi, để lại hai trái tim chỉ c̣n biết thương nhớ nhau bằng kư ức. Có những gia đ́nh, kẻ ở lại người ra đi, dù chỉ cách nhau một ḍng sông nhỏ mà lại hóa ra xa đến tận hơn nửa đời người. Có những người chồng vội vă mang hai con lớn, để lại thằng út cho vợ, mà không ngờ thật đắng cay và chua xót khi về sau người cha và thằng con út ḿnh t́m thấy nhau ở hai bên chiến tuyến.
Đôi Bờ bỗng nhiên trở thành câu chuyện của những trái tim – những trái tim bị chia ly, những trái tim chảy máu, những trái tim tim lặng lẽ giữ lấy một niềm tin rằng, dù chiến tranh ngang trái, dù một ḍng sông nhỏ thôi cũng đủ trở thành ranh giới của nhớ thương. Nỗi “thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai”- trong Đôi Bờ của Quang Dũng - như một lời thở than, một vết thương mềm của anh lính nhớ về một h́nh bóng xa mà gần, gần mà xa. Nỗi nhớ ấy tưởng chỉ là chuyện riêng giữa hai người, nhưng thật ra lại chạm vào mạch ngầm hằng có trong lịch sử Việt Nam - nơi những ḍng sông từ lâu mang trong ḿnh số phận chia cắt.
Sau Bến Hải, đến Cầu Trường Tiền bị CS đánh sập khi chúng mưu đồ xé bỏ hiệp định đ́nh chiến Tết Mậu Thân 1968, chia cắt đôi bờ Hữu Ngạn Tả Ngạn của Huế gần cả tháng, đem chiến tranh vào tận thành phố và gieo tang tóc, chết chóc cho mấy ngàn thường dân vô tội. Từ năm 1965 và lần hồi nhiều năm sau đó, ranh giới Bến Hải bị xô lệnh khi miền Bắc cố t́nh và âm thầm lấn xuống phía Nam qua hẳn vùng phi quân sự. Đến năm Hè Đỏ Lửa 1973, cả ngàn bộ đội Miền Bắc bỏ xác, nhuộm đỏ ḍng sông Thạch Hăn khi tràn vào đánh vào Quảng Trị.
Những sự kiện lấn chiếm phía Nam sông Bến Hải, đánh sập cầu Trường Tiền, tiến đánh Quảng Trị 1972, chủ trương chiến dịch Da Beo, khiến nơi trao đổi tù binh hai bên vào hè năm 1973 không phải là tại sông Bến Hải, mà là tại sông Thạch Hăn, cho thấy sự tráo trở xảo quyệt của chế độ vô sản Miền Bắc, gây ra bao cuộc chia ly mà h́nh ảnh và vết tích đă, đang và măi măi c̣n in dấu trong lịch sử dân tộc.
Tưởng rằng sau 1975 khi đất nước liền một dải th́ nỗi chia ly sẽ chấm dứt, đôi bờ ngăn cách sẽ được xóa tan. Thế nhưng lịch sử như muốn thử thách thêm sức chịu đựng của con dân ḿnh, và rằng lịch sử chưa đủ những vết cắt, hay như thể cha ông chúng ta chưa đền đủ nợ oan gia từ tiền kiếp, biến cố 30 tháng 4, 1975 lại mở ra một cuộc chia ĺa khác, khủng khiếp hơn, kinh hăi hơn nhiều, gây nhiều thảm cảnh thương đau, đánh động lương tâm toàn thế giới – v́ lần này không phải bởi một ḍng sông nhỏ, mà bởi cả một đại dương rộng lớn và hăi hùng. Đại dương mênh mông này trở thành “ḍng sông thứ ba”, hàng trăm ngàn người Việt lại đứng ở hai bờ sông – một bên là đất mẹ, một bên là bến bờ xa lạ.
Sóng biển không những nuốt chửng thuyền nhân, mà c̣n nuốt cả những hy vọng, những lời hẹn thề, những tiếng gọi nhau không bao giờ tới được. V́ vậy khi đọc Đôi Bờ, ta không chỉ thấy một cuộc chia ly của hai người, mà c̣n thấy luôn bóng dáng của cả một dân tộc oằn người trong đó – một dân tộc nhiều lần bị đặt ở hai phía đối diện, nhưng trái tim người dân th́ chưa bao giờ thôi hướng về nhau - với một người ra đi là cả một gia đ́nh mươi người c̣n lại bên kia ngày ngày cầu nguyện cho người thân yêu đến được bờ bến tự do. Như vậy mới thấy rơ những Đôi Bờ của lịch sử có thể xa, nhưng những Đôi Bờ của t́nh người th́ vẫn âm thầm mong ước ngày tái ngộ.
Đây là một cuộc vượt tuyến vĩ đại chưa từng được ghi nhận trong lịch sử thế giới, nói lên sự dứt khoát chọn lựa Tự Do trong cuộc sống, thà chết ngoài biển khơi hơn là tiếp tục sống trong nhà tù lớn, nhỏ, của chế độ thù hằn. Văn học xă hội và lịch sử có thêm những danh từ mới: Di Tản, Vượt Biên Vượt Biển, Cướp Biển, Thuyền Nhân Bộ Nhân, HO, ODP, Trại Tỵ Nạn, Trại Chuyển Tiếp, Hoạt Động Cứu Người Vuợt Biển, Định Cư Nhập Cư, Political Asylum Green Card…
Nhưng các bạn ơi, bến bờ lần này xa vời vợi, quá rộng, quá lạnh, quá tàn nhẫn; Thái B́nh Dương hay cả bên kia bờ Thái B́nh Dương, rồi khắp ṿng quanh thế giới là vạn dặm cách xa quê hương. Ở giữa những bờ ấy là những con thuyền mong manh như số phận người ra đi, là đói khát, là sóng to gió lớn, là chết chóc với con mắt mở lớn khiếp đảm và bàn tay không kịp đưa lên trời cầu xin, với những cơn băo không tên làm ch́m thuyền, hay do thuyền của hung thần hải tặc đâm thẳng vào sau khi vét cạn chút tài sản c̣n lại của nạn nhân… Và giữa hai bờ ấy, cả mấy trăm ngàn người – v́ một chữ Tự Do - đă nằm lại, không mộ phần, không bia đá, chỉ có biển cả làm tấm khăn liệm cuối cùng. Những chia ly này, không như những chia ly trước chỉ v́ địa lư. Chúng là những tiếng khóc than bay lên tận trời. Là những vết thương âm thầm không ngưng rỉ máu trong từng gia đ́nh, khi cha mất con vợ mất chồng, anh em thất lạc nhau– là những thảm cảnh xă hội trớ trêu, đầy oan trái, đắng cay.
Ta thường tự hỏi có phải lỗi lầm? Hay chỉ định mệnh? Khi một người vợ phải “ôm cầm sang thuyền khác” v́ con thơ cần được nuôi, v́ miếng cơm manh áo, v́ bơ vơ trên xứ người, v́ không biết chồng ḿnh c̣n sống trong tù CS hay đă nằm đâu đó giữa núi rừng, biển khơi. Khi một người chồng cô đơn qua năm tháng, không tin có ngày vợ ḿnh an toàn vượt biển để đoàn tụ, đành phải lấy một người chưa hề quen biết để cùng góp gạo thổi cơm – Th́ đó không phải là lỗi lầm. Không ai phụ ai. Không ai phản bội ai. Đó là biến chuyển lịch sử phụ họ. Đó là định mệnh, là sự tàn nhẫn của thời cuộc, là cái giá con người phải trả. Ai trong chúng ta mà không mang một cây thánh giá trên vai?! Không nặng hơn, không nhẹ hơn; khác nhau ở chỗ vác như thế nào!?Chỉ là nhẹ hay nặng thôi! Trong những hoàn cảnh ấy, người ta không có sự lựa chọn. Cuộc sống buộc họ phải sống tiếp.
Phải chăng tiếp tục sống đôi khi cũng là một cách giữ ǵn phẩm giá của ḿnh. Để khi gặp lại nhau về sau, với mỗi người một đời sống riêng, th́ điều họ trao cho nhau là sự cảm thông và tha thứ. Cảm thông để hiểu rằng định mệnh đă an bài, không ai phản bội ai. Chớ trách móc, chớ kết tội. Cần tha thứ. Tha thứ để nhẹ ḷng, để giữ phần đẹp nhất của nhau, phần đă từng thuộc về nhau trước khi lịch sử xé đôi, và để khép lại một chương đời đau thương; chứ tha thứ không có nghĩa là phải quay về lại với nhau. Ta gọi đó là t́nh nhân bản.
Lỗi đâu ở kẻ đổi thay - Chỉ do định mệnh đẩy ngày xa nhau.
Thương nhau chẳng giữ được nhau - Th́ xin giữ lấy nỗi đau dịu dàng.
Mai sau gặp lại muộn màng - Mỗi người một ngả… vẫn mang nghĩa t́nh.
Tha thứ để nhẹ ḷng ḿnh - Tha cho số phận lênh đênh tháng ngày.
Có những Đôi Bờ khắc nghiệt hơn — những gia đ́nh bị xô lệch v́ lịch sử. Người tập kết mang người vợ mới về Nam khi người vợ miền Nam vẫn nuôi con thành đạt và mỏi ṃn chờ chồng suốt 20 năm, tạo ra hoàn cảnh những trái tim không biết phải trách ai, chỉ biết tự hỏi v́ sao số phận lại chia người ta ra làm hai nửa như vậy.
Lại có Đôi Bờ c̣n đau hơn nữa, khi một người cha v́ sợ mất chức, mất danh trong Đảng nên không dám bảo lănh chính con ruột của ḿnh ra khỏi trại cải tạo, nhưng lại nhận tiền để cứu một người xa lạ. Ở đó, Đôi Bờ không chỉ là khoảng cách, mà là vết cắt của lương tâm, là nơi người ta buộc phải đối diện với chính ḿnh.
Nhưng Đôi Bờ đâu chỉ nằm ngoài xă hội, ngoài lịch sử. Ngay trong một mái nhà nhỏ, đôi khi cũng có những ḍng sông lặng lẽ chảy qua. Có những người chồng bước sang một bờ khác của đam mê và phản bội, để lại người vợ đứng bên này với nỗi đau không gọi thành tên. Có những người vợ lạc vào cơn mê đỏ đen, để gia đ́nh dần dần trôi xa như chiếc thuyền đứt neo. Những ranh giới ấy không ai dựng lên bằng tay, nhưng lại hiện ra rất rơ trong ánh mắt, trong bữa cơm, trong khoảng cách của hai người từng nằm sát bên nhau.
Thiếu ǵ trường hơp Đôi Bờ đâu chỉ chia vợ chồng, cha con. Có khi nó chia cả những người bạn từng lớn lên bên nhau, từng chung một giấc mơ tuổi trẻ. Một người ở lại thành phố, khoác áo sĩ quan miền Nam; người kia vào bưng, trở thành cán bộ của phía bên kia. Đến ngày gặp lại sau 75, khoảnh khắc họ nh́n thấy nhau qua song sắt — một người tù, một người cai tù — là khoảnh khắc mà cả hai đều hiểu rằng t́nh bạn ngày xưa đă bị lịch sử xé làm đôi, không phải bằng dao, mà bằng những lựa chọn mà họ không c̣n quyền từ chối. Rồi người bạn trở về ép uổng lấy người vợ của bạn ḿnh, là người con gái mà cả hai từng thương chung thuở học tṛ. Không phải v́ phản bội, mà v́ thời cuộc đă đẩy mỗi người trôi sang hai bờ đỏ vàng khác, để khi quay lại, t́nh bạn ngày xưa chỉ c̣n là một vết đen trong kư ức, muốn quên nhưng thật khó.
Những Đôi Bờ nói trên— dù âm thầm, dù riêng tư — nhưng chính là những vết thương sâu nhất mà chiến tranh để lại trong ḷng người Việt
Các bạn mến, đại dương không những chia đôi đất nước, nó xé nát cả những cuộc đời. Đôi Bờ của biển cả, Đôi Bờ của lịch sử, Đôi Bờ của định mệnh – tất cả đă hoà lại tạo thành một nỗi đau chung của dân tộc. Một vết cắt thứ Ba, quá rộng, quá to, và sâu nhất. Ba lần chia cắt, ba ḍng nước – một nhỏ, một hẹp, một mênh mông – nhưng nỗi đau vẫn chỉ có một. Đó là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nh́n nhau mà không thể bước. Tuy nhiên, có điều lạ nhất – càng xa quê hương, ḷng càng nhớ, càng thấm nghĩa t́nh người. Lịch sử có thể chia đời ta từng đoạn, kể luôn cả gia đ́nh ta ra từng khúc, nhưng lại không chia được tấm ḷng của người Việt với người Việt trên quê hương thứ hai. Và với thời gian, ḷng người cũng hiểu điều c̣n lại sau cùng, không phải là biên giới hay chiến tuyến, mà là bàn tay muốn nắm lấy bàn tay, cho dù, như đă từng – cách một ḍng sông – và nay cách một đại dương
Khi viết về Đôi Bờ theo cái nh́n của lịch sử dân tộc, chúng ta không thể không nhắc đến thi văn và âm nhạc Việt qua các Đôi Bờ lịch sử ấy. Nơi lịch sử dựng ra Đôi Bờ, âm nhạc lại mở ra những con đường. Nơi chiến tranh đẩy người ta xa nhau, âm nhạc lại giữ họ lại gần. Nhạc và thơ vượt qua được ranh giới, nối lại những bờ xa vắng bằng một câu thơ nhung nhớ, bằng một câu ḥ à ơ t́nh tự. V́ thi ca và âm nhạc là hơi thở, là tiếng thở dài ai oán của cả hai bờ. Thi văn và âm nhạc luôn là nơi mọi người gởi gắm những nỗi chia ly, ḷng nhung nhớ, t́nh yêu thương mà lời nói thường không đủ mạnh, không đủ chiều sâu để cất lên. Mỗi giai đoạn lịch sử đều để lại một dấu mốc cho những Đôi Bờ.
Với ḍng sông Bến Hải, Lam Phương đă sáng tác “Chuyến Đ̣ Vĩ Tuyến” kể về một cô gái đưa người yêu vượt sông Bến Hải trong đêm “ Đêm nay trăng sáng quá anh ơi - Sao ta ĺa cách bởi ḍng sông bạc hai màu”. Một bản nhạc mà mỗi câu hát như run lên v́ sương khuya và nỗi đợi chờ.
https://music.youtube.com/podcast/cZuC2ACYTnQ
Ngày đất nước bị chia đôi ở vĩ tuyến 17, khi từng đoàn người lặng lẻ rời miền Bắc để t́m Tự Do, nhạc sĩ Anh Bằng đă viết “Nỗi Ḷng Người Đi”. Bài hát mang theo tiếng thở dài của hàng trăm ngàn thân phận người lên đường mà c̣n ngoái lại quê nhà. Bản nhạc không kể chuyện bằng sự kiện, mà bằng nỗi nhớ, bằng tiếng gọi quê hương từ ḷng của những kẻ buộc phải rời đi.
https://youtube.com/watch?v=QqXc4vP9Pqo&si=FJDiHlz0_UCQlm4S
Có những bài hát không cần nói đến nỗi đau thương, nhưng chỉ một câu thôi cũng đủ làm tim người nghe thắt lại. Trong “Bên Bờ Đại Dương”, khi nhạc sĩ Hoàng Trọng và Hồ Đ́nh Phương viết “Đất nước tôi màu thắm bên bờ Đại Dương, Bắc với Nam, t́nh nối qua ḷng Miền Trung…”, đó là tiếng vọng của một người vừa trải qua cuộc chia đôi 1954, đứng bên bờ Nam nhớ qua bờ Bắc. Giữa hai miền là dăy Trường Sơn, là những mái tranh nghèo Bắc Giang, là ruộng ngọt phương Nam. Tuy trong bản nhạc không có khóc than, nhưng trong sự hùng tráng của nó có một nỗi sầu sâu đậm: dù chia đôi, dân tộc vẫn giữ niềm tin nghĩa t́nh có thể được nối qua ḷng miền Trung.
https://share.google/ZwYsrXkghxQmFaB9q
Giữa những Đôi Bờ của lịch sử, c̣n có những đôi bờ riêng – đôi bờ của định mệnh và tôn giáo. “Chuyện T́nh Buồn” của Phạm Duy, phổ từ bài thơ của Phạm văn B́nh, gốc Đông Hà, Quảng Trị, mang tâm sự một cuộc t́nh tan vỡ v́ người nam và người nữ không thể bước chung qua một cánh cửa tôn giáo – Một cánh cửa luôn rộng mở cho mọi người, nhưng lại khép lại cho đôi t́nh nhân trẻ tuổi - Đôi Bờ không nằm trên bản đồ, mà nằm trong trái tim, để khi gặp lại nhau chỉ c̣n “thương người em năm cũ, thương góa phụ bên sông”.
https://youtube.com/watch?v=Kh7e-iM5gDo&si=rHCO8vEyU2ARZrj6
“Chuyện Một Cây Cầu Đă Gảy” được Trầm Tử Thiêng sáng tác ngay trong năm 1968. Bài hát gắn liền với cây cầu biểu tượng cho xứ Thần Kinh, bị đánh sập trong Tết Mậu Thân ở Huế. Sáng tác này xem như một khúc ai điếu. Cấu nối hai phía Hữu Ngạn và Tả Ngạn, nối chợ Đông Ba, phu khố Gia Hội, phố Phan Bội Châu với các trường học Quốc Học, Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, Thiên Hữu, B́nh Linh, Đại Học Huế; nối Đại Nội, khu Thành Nội, Mang Cá cùng quân y viện Nguyễn Tri Phương với khu hành chánh, khu đại học cùng bệnh viện Trung Ương Huế. Một vài nhịp cầu bị nổ ḿn và nguyên thành phố Huế ch́m trong tang tóc – một phần đời của Huế bị bứng khỏi sự b́nh yên vốn từng có theo sự lặng lờ của ḍng sông Hương. Đặc biệt giai điệu bản nhạc mang âm hưởng Nam B́nh – Nam Ai, cổ kính của xứ Thần Kinh, như những tiếng than dài ai oán của thành phố chịu quá nhiều tang thương. Bản nhạc này được nhắc đến như một lời tiễn biệt cho phần linh hồn của Huế, không phải v́ một vài nhịp bị sập mà cả một kư ức chung bị vỡ, một nỗi đau mà dân Huế mang theo suốt đời – cho dù về sau cây cầu được sửa lại, tô màu, lên đèn, nhưng tinh thần Đôi Bờ của cây cầu không bao giờ được nối lại. Lịch sử sẽ ghi đầy một trang đen tối.
https://youtube.com/watch?v=LrvkA7fMhG0&si=vj3xvrqc7MapaH_x
Vĩnh Chánh
Xin đọc tiếp Phần II