
ĐÔI BỜ
Phần II
Bạn thân mến, có những nỗi nhớ không hướng về một cá nhân, mà hướng về cả một đời. Trong “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc – mà chúng ta biết đến, qua những công việc giúp người tỵ nạn định cư, cộng tác và hướng dẫn nổi tiếng của chương tŕnh nhạc Asia, người kêu gọi và góp sức trong việc xây dựng Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ tại Westminster, và nhạc sĩ của nhiều t́nh ca tuyệt vời, kể cả bài Saigon Ơi! Vĩnh Biệt - khi tiếng hát cất lên “Cho tôi xin lại ngọn đồi…Cho tôi xin lại bờ rừng…Cho tôi xin một lần chào…Cho tôi xin một mộ phần”, đó không chỉ là lời xin của một người tỵ nạn đơn giản, mà là lời khấn của một người lính đă mất quê hương, mất đồng đội, mất cả nơi để trở về. Những ngọn đồi ấy, bờ rừng ấy, không c̣n trên bản đồ, nhưng vẫn c̣n nguyên trong kư ức – nơi anh em từng nằm chung hầm, chia từng nhúm gạo sấy, từng hơi thở giữa cái sống và cái chết. Và nỗi đau đớn nhất, không phải là lưu vong, mà biết rằng ḿnh không thể trở về để chào những bạn đă khuất. Xin hăy niệm mỗi câu hát là một nén hương thắp cho những đồng đội đă nằm xuống, và ngay cả cho một phần đời của ḿnh đă nằm lại bên kia bờ. Bài hát này, không phải chỉ là kư ức chiến trường, mà c̣n là kư ức của những người ở lại nh́n bạn bè ra đi măi măi - khiến bao chiến sĩ chúng tôi nhỏ lệ.
Mấy chục năm trước, ca nhạc sĩ Nam Lộc tŕnh bày cho cộng đồng người Việt Tỵ Nạn bản nhạc Người Di Tản Buồn rất nhiều lần, không những trên sân khấu mà trong những công viên, những khuôn viên nhà thờ, nhà hội đoàn…Trong thước phim đen trắng cũ kỹ ấy, Nam Lộc đứng trước cả ngàn người. Không có sân khấu lộng lẫy, không ánh đèn màu, chỉ một đờn guitar và một micro đơn sơ và tiếng hát nghẹn ngào của một người từng sống với nỗi đau của dân tộc. Xung quanh ông là những gương mặt trẻ, nam nữ, đứng chen nhau, mắt mở lớn, lặng đi như bị cuốn vào từng câu hát. Họ là thế hệ vừa rời quê hương, c̣n nguyên nỗi bàng hoàng của những ngày vượt biển, vượt biên. Phía sau họ, những mái đầu bạc, những cụ ông cụ bà khoác áo len cũ, đứng nép dưới bóng cây. Nhiều người tỏ dấu xúc động. Có lắm cụ chắp tay trước ngực, như muốn chặn cơn nghẹn đang dâng trào trong con tim; có bà cúi mặt, cầm vạt áo lau nước mắt, không phải chỉ v́ bài hát buồn, mà v́ bài hát nói đúng nỗi ḷng của thế hệ lưu vong.
Mọi người đứng yên, như bị giữ lại bởi sức nặng của kư ức. Khi Nam Lộc cất lên đoạn cuối – đoạn từng làm bao trái tim rướm máu – cả đám đông như nín thở, không một lời nói, không một ai nhúc nhích. Chỉ có tiếng hát, tiếng nức nở, cùng tiếng thở dài của những người mang quê hương trong tim suốt một đời.
https://www.facebook.com/watch/?v=975442624207928
Một người khác, không có số quân, và bạn thân của tôi, cũng đă hát “Người Di Tản Buồn”. Bs. Lương Quang Thịnh chỉ là một người thích hát, với mái tóc dài lăng mạn của thời sinh viên. Nhưng giọng hát lại mang một nỗi xót xa rất thật – do lẽ anh đă lớn lên giữa mùa hè Đỏ Lửa, khi bạn bè trong xóm, và cả người thân bị đôn quân năm 1972, rồi ngă xuống quá sớm. Anh là kẻ may mắn được tiếp tục cắp sách đến trường. Nhưng sự may mắn ấy lại trở thành một vết thương âm ỷ. Là nỗi day dứt của người ở lại nh́n tuổi trẻ của bạn bè ḿnh hóa thành bia mộ.
Có lẽ v́ vậy, khi anh hát, mắt anh sâu và buồn đến lạ - như nh́n xuyên qua bao năm tháng thấy lại những gương mặt đă mất. Giọng hát anh vững, không phô trương, nhưng mỗi chữ như mang sức nặng của con người từng chứng kiến chiến tranh từ phía sau cánh cửa gia đ́nh. Anh cùng người yêu vượt biên khi đang c̣n là sinh viên năm thứ Tư Đại Học YK Saigon, mang theo hành trang, không chỉ là ước mơ của tuổi trẻ, mà c̣n là h́nh ảnh của những người nằm lại trên những chiến trường lớn nhỏ, trên các con đường bờ rừng của quê hương. V́ vậy khi anh cất lên “Người Di Tản Buồn”, ta không chỉ nghe tiếng hát của một người tỵ nạn, mà là tiếng thở dài của một thế hệ của những người trai không cầm súng nhưng vẫn mang trong ḷng một cuộc chiến chưa chấm dứt. Và tôi nghĩ, chứng kiến những người bạn trẻ đă nằm xuống vĩnh viễn – sự bất lực, sự ray rứt của người ở lại – rất gần với nỗi đau mà Nam Lộc từng viết, từng cất cao tiếng hát.
https://youtu.be/8f4o3mDwMkE?feature=shared
Trong bài “Một Lần Yêu” của Phạm Mạnh Cương, sáng tác năm 1968, câu cuối “Xin nhớ rằng hợp tan có khi – Em gối mộng anh xuôi vạn lư - Hẹn ngày nao trên bến quê hương – Thuyền về đây rũ áo phong sương – Đôi ḿnh chung ngắm mây hoàng hôn” không chỉ là lời hẹn vu vơ của đôi lứa, mà là lời hẹn của những người ly hương với quê hương yêu dấu của ḿnh. Dù đời khi hợp khi tan, dù mỗi chúng ta kẻ ngược người xuôi, chúng ta vẫn c̣n có chung một bến đợi…trong hoàng hôn của cuộc đời.
https://youtube.com/watch?v=7v1DS5yYzYA&si=no7uP2cZePEtNSR2
Nếu “Một Lần Yêu” mở ra một bến đợi cho ta t́m về, th́ trong “Em C̣n Nhớ Mùa Xuân”, NS. Ngô Thụy Miên mở ra một giấc mơ hồi hương giữa những ngày lưu lạc. Bài này được Ông viết năm 1978, khi ông một ḿnh đang ở trong trại tỵ nạn Pulau Bidong, xa người yêu. Nỗi nhớ ở đây không chỉ là nhớ mùa Xuân, mà là nhớ một thành phố đă mất, nhớ một quê hương chưa biết bao giờ gặp lại. Qua câu “những thành phố em đă đi qua…nhưng có đâu bằng Saigon hôm qua- nhưng có đâu bằng Saigon mai sau – em có mơ ngày hát câu hồi hương”, đó không phải là chỉ là một nỗi nhớ cho thành phố, mà là luyến tiếc nhớ nhung cho một đời sống đă từng. Và câu hát ấy trở thành lời th́ thầm của bao người xa xứ: dù chân bước qua bao nhiêu nơi, đường xa bao vạn dặm, trái t́m ta vẫn hướng về chốn duy nhất để trở về. Bản nhạc này là một trong những bài mến chuộng nhất tại hải ngoại.
https://youtube.com/watch?v=7v1DS5yYzYA&si=yx5XjrYeTOFD3-N5
Trong hành tŕnh về thăm lại quê hương, có những con đường vẫn nguyên như ngày ta rời, vẫn nắng mai rực rỡ, hàng hoa giấy vẫn đỏ thắm, tiếng chim vẫn gọi nhau. “Con Đường Tôi Về”, một sáng tác bất hủ để đời của NS. Lê Tín Hương khi về thăm cha bệnh nặng sau 15 năm cách biệt, đă được viết lên với những cảm xúc thật khi đối diện với cảnh cũ người xưa. Mặc dù nó không óng ả mượt mà như mấy câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo – Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”, nhưng NS Lê Tín Hương giúp ta nh́n thấy cô gái áo trắng ngày nào nay đă bước vào đời với nụ hồng lả lơi, người thương phế binh lê đôi nạng gỗ giữa chợ đời, người cha trở về thân thể hao gầy sau những năm tù tội, người mẹ quê vá áo đời bằng đôi tay gầy guộc – những h́nh ảnh lột tả đúng sự thật của một xă hội nuôi nhau trong dối gian và bần cùng tột độ. Những câu ấy không trách móc ai. Chúng chỉ đặt tay lên những vết thương, dù nhẹ, nhưng vẫn đủ để ta thấy nhói, thấy đau. Và để ta nghiệm ra không phải là thấy mái nhà xiêu vẹo, vườn hoang ruộng trống mà xót xa bùi ngùi, mà chính là thấy thân phận người thương yêu của ḿnh đă bị thời gian tiêu hao, xoáy ṃn – những người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ - Đôi Bờ v́ thế không chỉ là câu chuyện của chia cắt, mà c̣n là câu chuyện của những bước chân trở lại – trở lại để nhận biết rằng quê hương vẫn đẹp, nhưng đẹp trong một nỗi buồn không thể gọi tên.
https://youtube.com/watch?v=i3a8-_pkJMM&si=S-sYl7k7VTatO4r7
Có những chia ly không phải v́ lỗi của ai, mà v́ thế sự nghiêng ngửa đẩy đưa. Trong “Đă Một Lần”khi Bác sĩ Nhảy Dù tài hoa Phạm Gia Cổn viết “Trách chi người ai lỗi ai -Trách chi người mi ướt cay -Trách chi người thôi đă xa nhau kiếp này- Th́ thôi có trách trăm lời cũng thừa. Mùi thơm khăn áo đi vào cổ tích tôi”, đó chỉ là một lời thở dài của một người từng hiểu trách móc không làm vơi nỗi đau, mà chỉ làm nặng thêm những ǵ đă mất. Bởi vậy, Ông chọn cách buông – buông cho nhẹ ḷng ḿnh, và nhẹ luôn cả người ấy. Giữa những Đôi Bờ định mệnh, đôi khi điều nhân hậu nhất ta có thể làm cho nhau là không trách cứ ǵ nhau. Trả lại một khăn tang cho quăng đời của nhau.
Một trong những bản nhạc do bác sĩ quân y Phạm Anh Dũng sáng tác về nỗi nhớ quê hương, “T́nh Khúc Hồi Hương”, rất được mến mộ, không những v́ âm điệu rất nhẹ nhàng, dỗ dành, quyến rũ mà lời nhạc rất đơn sơ đầy t́nh quê mộc mạc. Chỉ cần một ḍng sông xưa, một con đường cũ, một hàng cây xanh là đủ để đánh thức cả một nỗi niềm quê hương – đă từng tiềm ẩn trong quá khứ - Lời nhắn nhủ “này người yêu dấu, anh muốn đưa em về ḍng sông xưa làng cũ…thăm ngôi trường cũ…thăm con đường cũ…” không chỉ là lời hẹn của đôi lứa, mà là lời th́ thầm của những kẻ đi quá xa, mong một ngày được trở về nơi ḿnh từng bắt đầu. Dịu dàng chân thật, bài hát nhắc ta quê hương không bao giờ mất – nó chờ đợi ta, trong khói sương chiều, lặng lẽ b́nh an như hàng cây xanh lá thắm ngàn năm.
https://youtube.com/watch?v=vj2h7PinnLA&si=QjGDMTVVSqBkjn2M
Trong lời Việt của Lữ Liên, bản nhạc“Đôi Bờ” mang hai nhịp thở: một nhịp của chia ĺa tuyệt vọng, và một nhịp của giấc mơ hồi hương. Khi nghe “bóng con thuyền vượt ngàn trùng…Măi măi mất nhau”, ta tưởng như đó là một cuộc biệt ly không c̣n đường trở lại. Thế nhưng, ở cuối bài, h́nh ảnh “đêm qua anh mơ bóng quê hương…đứng dưới bóng mát…đón em khi tan trường” lại hiện ra như một phép mầu nhỏ. Các bạn ơi! Đó không phải là thực tế - Đó là giấc mơ của những người đă mất quá nhiều, chỉ c̣n chút kư ức để níu lại. Giữa hai bờ tuyệt vọng và hy vọng, bài nhạc nhắc ta rằng: đôi khi, chính giấc mơ là nơi duy nhất ta c̣n có thể gặp lại nhau. Người nhạc sĩ nghiệp dư trong bài hát là quân nha sĩ Lư Văn Quư, với giọng hát sống động và truyền cảm.
https://youtube.com/watch?v=xJIfb95kXAE&si=o_6VwBbCYNpWFlf7
Chắc ai trong chúng ta cũng nằm ḷng bản nhạc “Tôi Đưa Em Sang Sông” của Nhật Ngân & Y Vũ. Câu hát “Nàng đă thay một lối về. Quên cả người trong gió mưa” làm ta liên tưởng đến câu thơ đầy mộng mơ “Em là gái trong song cửa, anh là mây bốn phương trời”. Là tiếng thở dài của những phận người bị hoàn cảnh đẩy xa nhau, giống như bao đôi lứa bị chia ĺa do thời cuộc: một chàng trai lên đường làm nhiệm vụ, một người phải rời quê v́ chiến cuộc, như trong câu “Đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Rỏ ràng bài hát trang trải đúng nỗi niềm của những Đôi Bờ định mệnh: yêu nhau mà không đến được với nhau, không phải v́ lỗi của ai, mà v́ đời đă chọn cho họ một con đường khác. Con đường của trai thời loạn.
https://youtube.com/watch?v=TtigPvU-cLw&si=eWLoZhhpWdomImQw
Bạn mến, có những cuộc ra đi tưởng như chỉ là một cơn mộng dữ giữa trùng trùng sóng gió. Từng chúng ta năm ấy bước lên con thuyền không hẹn ngày trở lại, mang theo một niềm tin mỏng manh đến mức chỉ cần một cơn gió ngược cũng đủ làm chao đảo. Giữa biển đời mịt mù, đôi khi chính trái tim cũng mỏi ṃn, không biết đâu là bến, đâu là bờ, đâu là nơi ḿnh sẽ gọi “miền đất hứa”.
Thế rồi trời đất vẫn âm thầm nâng đỡ. Sau bao năm bụi mờ phủ lên kư ức, “Tạ ơn đời đă ban, Cám ơn người cưu mang, Thuyền được về bến đỗ – Giữa biển đời ly tan”— Nơi đất nước dang tay rộng đón ḿnh, nơi gia đ́nh được dựng lại từ những viên gạch đầu tiên của hy vọng. Từ một cuộc ra đi vô vọng, từng chúng ta đă t́m thấy một mái ấm, một hạnh phúc không chỉ nở hoa mà c̣n kết trái, nuôi dưỡng nhau trong tin yêu của những ngày tươi sáng trước mắt “Nh́n hoa trái đẹp đời - 50 Năm đắp xây, hạnh phúc trong t́nh đầy”
Để từ đó trái tim học cách biết ơn. Biết ơn đất nước đă mở cửa đón ḿnh. Biết ơn cuộc đời đă cưu mang ḿnh. Biết ơn người bạn đời đă cùng ḿnh đắp xây một mái nhà đầy ắp tiếng cười. Và biết ơn chính ḿnh — người đă đi qua nửa thế kỷ bụi mờ mà vẫn luôn ráng giữ ḿnh làm một người tốt, trân quư tất cả những ǵ đă nhận để sẵn sàng chia sẻ cho những kẻ kém may mắn. V́ bạn ơi, trong lớp bụi của năm tháng, có những hạt bụi làm cay mắt, nhưng cũng có những hạt bụi lấp lánh như ánh nắng ấm áp cuối chiều, mà nếu bạn biết nhặt lấy, dành dụm và nâng niu, chúng sẽ thành những câu chuyện đẹp, nhân ái và đáng nhớ.
Mời bạn đọc thưởng thức bản nhạc “50 Năm Bụi Mờ” của nhạc sĩ Lê Tín Hương. Một bản nhạc chan chứa t́nh cảm, và có lẽ là bản duy nhất được viết ra trong năm 2025 – tặng chung cho bao người buộc phải rời bỏ quê hương ḿnh. Người tŕnh bày bản nhạc là quân y sĩ Phạm Quang Tố. Điều làm người nghe xúc động nhất khi nghe “50 Năm Bụi Mờ “không phải là kỹ thuật hay sự trau chuốt, mà là giọng hát của một người b́nh thường — một người không đứng trên sân khấu lớn, không mang danh ca sĩ chuyên nghiệp, nhưng lại hát bằng cả trái tim đă đi qua nửa đời phong sương. Trái tim của một đời người từng trải qua di cư 54, nay lại phải một lần nữa xa quê hương. Nên trong từng câu hát của anh, tôi nghe được hơi thở của một kiếp người: ấm và chân thật, mộc mạc mà thấm sâu. Có lẽ chính v́ anh không phải ca sĩ chuyên nghiệp nên mỗi chữ, mỗi nốt đều mang một vẻ đẹp rất người. Không có sự phô diễn, chỉ có sự trải ḷng. Không có sự hoàn hảo, chỉ có sự chân thành. Và đôi khi, chính sự chân thành ấy lại làm người nghe dễ rơi nước mắt hơn bất kỳ kỹ thuật nào.
Phải chăng qua giọng hát ấy, ta nh́n thấy h́nh ảnh của chính ḿnh trong đó: một cuộc ra đi tưởng như vô vọng, những năm tháng băo tố dập dồn, những lúc nguyện cầu khi niềm tin quá mong manh. Đồng thời cũng đồng cảm với tấm ḷng biết ơn dành cho đất nước đă cưu mang, cám ơn cuộc đời đă cho ḿnh một tương lai, cho ḿnh đắp xây hạnh phúc từ những điều căn bản nhỏ bé nhất. Để chợt thấy giờ đây “hoàng hôn đến hững hờ - Nghe từ cơi hoang sơ, hồn xưa cũng bụi mờ”
https://youtu.be/0yxMIkn39jo?si=4IWCcDUA5uGEuLM3
Bạn đọc thân mến, khi tôi gần chấm dứt bài viết của ḿnh, tôi nhân được bản nhạc “Đôi Bờ Xa” của NS. Lê Tín Hương. Bản nhạc là một giai điệu nâng niu từng nỗi nhớ, c̣n ca từ th́ như nối dài thêm câu chuyện Đôi Bờ, bất chợt đến và chạm vào nơi sâu nhất, nơi những con sóng kư ức vẫn c̣n th́ thầm. Như một hơi thở dài của biển đêm. Giai điệu mềm, chậm, nhưng không hề buồn rũ v́ nó mang cái buồn của người từng trải, của những bước chân đă đi quá nửa đời người nhưng vẫn c̣n ngoái về phía quê hương. Để biết rằng t́nh người, t́nh quê, t́nh đời… vẫn c̣n đậm đà. Người nghe có cảm giác như ḿnh đang đứng trước một đại dương thật sự - rộng, sâu, và đầy những điều khó gọi thành tên. Sóng trong bài hát không chỉ là sóng biển, mà là sóng ḷng: những đợt nhớ, đợt thương, đợt tiếc nuối của một đời người xa xứ.
Cao trào của cảm xúc nằm ở đoạn “Dẫu đôi bờ xa nhưng t́nh ta măi đậm đà”. Ở đây, giai điệu nâng lên nhẹ nhàng, không bi lụy, mà như một lời tự nhủ, một lời hứa âm thầm. Người nghe cảm nhận được một thứ t́nh cảm rất đẹp: không đ̣i hỏi, không trách móc, chỉ lặng lẽ tồn tại — như một ḍng nước ngầm chảy măi giữa hai bờ. Khi bản nhạc kết thúc, người nghe không thấy nặng nề. Ngược lại, có một sự b́nh yên rất lạ. Như thể sau bao nhiêu năm đi qua băo giông, cuối cùng ta cũng hiểu rằng: có những điều không thể gặp lại, nhưng vẫn có thể giữ lại. Có những bờ xa không thể bước tới, nhưng vẫn có thể đứng từ bên này mà thương.
“Đôi Bờ Xa” v́ thế không chỉ là một bản nhạc. Nó là một lời tâm sự của cả một thế hệ, là tiếng thở dài của những người đă rời đất nước nhưng tâm hồn vẫn c̣n gắng bó với quê hương.
https://youtu.be/gL9sQudSY60?si=YkwCIJWp66tAhX-m
Quư bạn thân mến, nh́n lại hành tŕnh nửa thế kỷ phủ bụi mờ, ta chợt hiểu rằng mỗi đời người, dù đi xa đến đâu, cũng mang trong ḿnh một sợi dây vô h́nh buộc về quê cũ. Những năm tháng lưu lạc tưởng như chỉ là chuyện riêng của một gia đ́nh, một kiếp người, nhưng thật ra lại ḥa vào câu chuyện lớn hơn của cả dân tộc - câu chuyện của những đôi bờ đă từng bị chia cắt, của những con tim phải rời nhau trong lặng lẽ, của những bước chân ra đi trong âm thầm mà không biết ngày trở lại.
Và chính trong khoảnh khắc nhận ra ḿnh đă t́m được bến đỗ, ta lại thấy rơ hơn nỗi mong manh của những phận người đứng hai phía ḍng sông lịch sử — luôn mang theo niềm tin lúc đầy lúc vơi, mang theo nỗi nhớ lúc sáng lúc mờ, nhưng chưa bao giờ thôi hy vọng một ngày nào đó được nh́n thấy nhau trong b́nh yên.
Quư bạn đọc thân mến, khi nh́n lại những Đôi Bờ đă đi qua theo thời gian, ta mới hiểu rằng lịch sử Việt Nam không chỉ viết bằng chiến thắng đẫm máu, chiếm đồi này hay đồn bót kia, hoặc những bản hiệp định trên giấy tờ, mà c̣n bằng những khoảng cách: khoảng cách của một cây cầu bị đánh sập, của một lằn vĩ tuyến phi quân sự vẫn bị mưu mô lấn chiếm trong bóng tối, của một pḥng tuyến bị đẩy xuống, của một ḍng sông đổi vai tṛ, và của một đại dương mênh mông. Nhưng điều kỳ lạ hơn nửa là càng nhiều Đôi Bờ, người Việt càng học cách t́m nhau. Từ những người di cư 54, đến những gia đ́nh chờ tin nhau dù đă có con sông Bến Hải và vĩ tuyến 17, rồi những con thuyền vượt biển sau 1975 mang theo hy vọng mong manh…tất cả đều cho thấy một điều: khoảng cách chưa bao giờ đủ lớn để dập tắt khát vọng tự do. Và điều đẹp nhất không phải là khi hai bờ liền lại, mà khi ta nhận ra trong sâu thẳm của trái tim, có những tiếng gọi chào, những nhung nhớ, những thương yêu, t́nh quê hương, gởi qua âm nhạc và thi ca, là động lực giúp ta hiểu thêm rằng chưa bao giờ tồn tại một ḍng sông đủ lớn, đủ mạnh để chia cắt t́nh người. Những đôi bờ lịch sử rồi sẽ rời xa, thay vào đó là những Đôi Bờ của ḷng người, nơi ta vẫn hướng về nhau, dù ở nơi nào cũng t́m đường đến với nhau - như bao trăm ngàn người Việt bên ngoài Việt Nam đă và đang tiếp tục bảo lănh thân nhân ḿnh đến sống cạnh ḿnh, chung bờ với ḿnh – hay gởi tiền về giúp xóm làng, người quen xưa - là điều sẽ c̣n măi.
Mong rằng thi ca âm nhạc, khi đưa vào bài viết Đôi Bờ này, không phải để làm loăng tính chất lịch sử khắc nghiệt của Đôi Bờ, cũng không làm bài viết mềm đi. Nó làm cho trái tim người đọc…ấm lại, đồng thời làm thêm một điều rất nhỏ mà lại rất đẹp: rót vào câu chuyện lịch sử một hơi thở của hối tiếc, của một lời xin lỗi, của hy vọng và tha thứ độ lượng. Để nói lên rằng, không có ḍng sông nào có thể vĩnh viễn làm chia cách t́nh người, nếu chúng ta nh́n lại những trang lịch sử Đôi Bờ bằng trái tim. Với những hiểu biết vừa lư vừa t́nh ở trên đă giúp Đôi Bờ, vốn nguyên thủy là một bài viết khô khan, trở thành một bài viết không chỉ để đọc, mà để cảm thông, để nhớ và để thương. Một bài viết về hành tŕnh cho những người đứng giữa đôi bờ, nhưng trái tim th́ chưa rời bờ nào. Và rằng âm nhạc luôn là chiếc cầu duy nhất, t́nh cảm nhất, nhẹ nhàng nhất, giúp nối những linh hồn đă tản mác khắp nơi. Cho thấy CS diệt được mọi thứ nhưng không thể nào cấm được cái mà chúng từng sợ nhất: Nhạc Vàng. Cho thấy CS diệt được mọi thứ nhưng không thể nào cấm được những cái mà chúng từng sợ nhất: Tinh Thần Tự Do Dân Chủ, Nền Giáo Dục Nhân Bản, nền Văn Học Nghệ Thuật và Nhạc Vàng của Miền Nam Việt Nam.
Vĩnh Chánh, tháng 4, 2026