
HỒ TÂY. Hồ Tàu, Hồ Ta.
Vợ chồng tôi có dịp thưởng ngoạn Hồ Tây, Hàng Châu,Trung Quốc, nơi những thi sĩ và triết gia TQ ca ngợi như thiên đàng hạ giới đọc những vần thơ của Bạch Cư Dị và Tô Đông Pha, tôi nhớ Hồ Tây, Hà Nội, và những vấn thơ của Bà Huyện Thanh Quan, và Cao Bá Quát để ngậm ngùi và hoài niệm …Có cùng cảm xúc với cảnh, nhưng thi sĩ TQ để ḷng ḿnh sống lan tỏa trong niềm hạnh phúc an lạc nhưng thi sĩ VN đào sâu quá khứ đau đau với những khổ đau? Tại Sao?
HỒ TÂY, HÀNG CHÂU, TQ
1.) Uống Rượu bên Hồ Tây (Tô Đông Pha)
Nắng lên, sóng nước ánh long lanh,
Mưa xuống, non xanh lại hóa t́nh.
Tây Hồ ví tựa Tây Thi
Điểm trang đậm nhạt cách ǵ cũng xinh
(Tô Đông Pha nhân cách hóa Tây Hồ như nàng Tây Thi trang điểm hay không vẫn là tuyệt sắc giai nhân, vượt thời gian).
2.)Dạo Tây Hồ mùa xuân (Bạch Cư Dị)
Bắc chùa Cô Sơn, tây gác hộ Giả,
Mặt nước vừa ngang, mây sà thấp.
Oanh sớm tranh cành cây ấm áp,
Yến non mổ đất gọi mùa xuân.
Hoa rối dần mê đôi mắt khách,
Cỏ non vừa ngập vó ngựa dần.
Hồ Đông thích nhất, đi chưa chán.
Đê cát, liễu xanh rợp bóng ngần.



HỒ TÂY, HÀ NỘI, VN
1.) Qua Hồ Tây (Bà Huyện Thanh Quan)
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Bắc, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Thuyền ai thấp thoáng ven bờ,
Bóng chiều bảng lảng, sương mờ hoàng hôn.
Nhớ xưa cảnh cũ đâu c̣n,
Thương nhà, thương nước, nỗi buồn khôn nguôi.
(Hoài cổ, ch́m sâu với lịch sử tang thương).
Trong bài Thăng Long Thành Hoài Cổ của bà
Tạo hoá gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo.
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
2.) Tây Hồ (Nguyễn Trăi)
Hồ Tây khói nước nhạt như sầu,
Xưa nay mấy độ gió thu mau.
Thế sự nổi trôi người từ già
Âu trắng vô ngôn đứng bến sâu.
3.) Tây Hồ (Nguyễn Du)
Khi đứng trước chùa Trấn Quốc đă than về sự biến đổi (vô thường) của thời gian.
Cổ từ thế lương hải háo di
Tây hồ minh nguyệt chiều tà huy.
(Chùa xưa buồn tẻ, biến g̣ thay đổi.Trăng sáng hồ Tây soi bóng chiều tà)
4.) Tây Hồ (Cao Bá Quát)
Hồ Tây tháng rộn nước thênh thang
Một dải thu quang bóng liễu vàng.
Lớp lớp lá sen mây phủ đất,
Nơi nơi hoa lúa tuyết đưa hương.
5.) Hồ Tây (Ư Nhi)
Gió lật trang sách
Tôi chưa kịp đọc,
Một chiếc lá rơi.
Cũng đủ làm mùa đổi thay.

VÔ THƯỜNG THEO QUAN NIỆM PHẬT GIÁO, LĂO GIÁO và ĐẠO GIÁO.
Khi bàn đến VÔ THƯỜNG người ta thường nghĩ đến Phật Giáo mà bỏ quên quan niệm Vô Thường trong Đạo Giáo và Khổng Giáo.
Vô Thường theo quan niệm Phật Giáo:
Đó là Tam Pháp Ấn (Vô Thường, Khổ, Vô Ngă), ba pháp này bện chặt lấy nhau.nhưng mọi pháp luôn thay đổi trong từng sát na…quán chiếu Vô Thường để đoạn trừ CHẤP, (chấp ngă, chấp pháp) THỦ,(xuất hiện sau ái ,yêu ai yêu hết một đời, sinh ghen tuông. HỮU (cái tôi, thuộc về tôi).
Vô thường là sự thật của Pháp
Khổ là phản ứng của ngă.
Vô ngă là con đường giải thoát….
Hiểu được nguyên nhân, diệt trừ nguyên nhân là qua sông bỏ bè.
Thơ BHTQ.
Tạo hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
………..và Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
Bà HTQ, chấp thủ vào cảnh cũ, người xưa, than văn và gây Khổ.
Cũng như Nguyễn Trăi:
Hồ Tây khói nước nhạc như sầu,
Xưa nay mấy độ gió thu mau…
Tôi thích nhất những vần thơ của nhà thơ trẻ diễn tả Vô Thường của người ngoài cuộc (chỉ quan sát mà không tự vấn)
Hồ Tây (Ư Nhi)
Gió lật trang sách
Tôi chưa kịp đọc
(V́ tôi không làm chủ, v́ đó là vô thường…chữ vẫn c̣n đó mà không phải của tôi)
Một chiếc lá rơi.
Cũng làm mùa đổi khác .
(Nh́n lá rơi, tôi không đau, không tiếc nuối…v́ mùa sẽ đổi thay,) Ư Nhi cảm nhận Vô Thường trong từng giây phút, trong từng sự già nua và chết chóc của tế bào.
Vô Thường theo quan niệm Đạo Giáo
Trong Đạo Giáo xem Vô Thường là sự biến dịch không ngừng. Vạn Vật luôn luôn xoay vần và biến đổi..mà không mất đi như Xuân ,Hạ, Thu ,Đông....rồi lại Xuân, như Hơi nước thành Mây, Mưa, như Năng Lượng biến thành Động Năng mà không mất...
Khi sự vật phát triển đến cực điểm sẽ quay lại trạng thái ban đầu (Mạnh quá sẽ yếu, Đủ quá sẽ vơi ..)..Trong Đạo Đức Kinh , vạn vật vận hành tự nhiên theo quỷ đạo của Thiên, Nhân, Địa cho nên con người phải nương theo mà sống chung, sống cùng…Xuân th́ hưởng hoa, Hè th́ nghe chim kêu vượn hú, Thu th́ xem lá thay màu, Đông th́ xem tuyết rơi bên cửa với ly trà nóng…..Đạo giáo không phủ nhận cái Ngă mà xem nó như là phần của Tâm.. làm cho dịu nó đi ..Giải thoát đối với Đạo là VÔ VI (non-action) không cần xuất thế sống với thiên nhiên, ḥa với vạn vật để được tiêu dao tự tại.
Thơ của Tô Đông Pha
Nắng lên, sóng nước lấp lánh mới hay,
Mưa xuống, non xanh mờ ảo cũng lạ thay….
Vô thường ở Đạo Giáo là tiêu diêu tự tại. Nắng, Mưa hay bốn mùa đều có cái Đẹp, cái Đáng yêu của nó, không kẹt trong một trạng thái nào. Vô Thường được YÊU THƯƠNG, không bị tránh xa chống bỏ như Phật Giáo. Con người theo Đạo Giáo phải biết ḥa nhập với vô thường để sống có ư nghĩa và hạnh phúc.
Vô Thường theo quan niệm Khổng Giáo.
Nho giáo cho rằng: Trời đổi, Thời đổi ,Thế đổi … Biến, Dịch là tất yếu nhưng Nho giao dạy ta biến mà không loạn ..dù biến trời, biến thời hay biến thế..
Nh́n Vô Thường theo kinh Dịch (nh́n Mây biết Mưa, nh́n xă hội rối loạn biết “Thượng bất Chánh, hạ tất loạn “đề biết Tề gia, Trị quốc, B́nh thiên hạ.. để biết Trung, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín…v́ quốc gia Hưng Vong là nổi đau và trách nhiệm của thất phu..Khổng giáo không đứng ngoài Nh́n Vô Thường (như Phật Giáo nh́n mọi vật như nó là.., không dính mắc , không can thiệp, cũng khác với Đạo giáo hoà nhập,) Khổng giáo sống theo ,chấp nhận Vô Thường là phải tích cực vận chuyển Vô Thường theo quan niệm “Anh Hùng tạo Thời Thế, ..Thời Thế tạo Anh Hùng “..v́ cùng tắc biến tắc thông..V́ Thế Giới bao la đầy rẫy vô thường “Cánh Cửa này đóng, Cánh cửa khác sẽ mở...”
Khổng giáo không phủ nhận cái Ngă nhưng dạy người tu thân, chính danh, trách nhiệm với xă hội của một chính nhân quân tử…Giải thoát trong Khổng giáo thông qua nhập thế. tự do trong khuôn khổ, chính danh và trách nhiệm thoát khỏi hỗn loạn và lo âu..để trở thành Thánh Nhân, Quân Tử.
Khổng Tử hỏi “Trong biến đổi. Con người phải sống thế nào cho đúng?
Lăo hỏi “Trong biến đổi. Con người sống làm sao không trái đạo?
Phật hỏi “Trong biến đổi. Sống làm sao cho không khổ?
Kết luận bằng câu chuyện vui “Cách đây 2500 năm. Ba ông già ngồi trên chiếc ghe xuôi ḍng nước. Ông Phật ngồi yên nhắm mắt chờ ghe tấp vô bờ để lên. Ông Lăo ngồi ngăm nga uống rượu, ngâm thơ, Ông Khổng ḷng không yên, nh́n ḍng sông chảy khi nhanh, khi chậm, khi cạn khi sâu.và tự hỏi “Làm thế nào để điều hoà ḍng sông …
Loi Dai Vo