Chuyện Tấm Hình Xưa

 

Mùa đông năm 2038 - Sân bay trung chuyển Hong Kong.
Thời tiết thay đổi đột ngột, trên loa vừa thông báo có bão, các chuyến bay sẽ phải hoãn ít nhất một ngày.
Giữa đám đông ồn ào bát nháo, người ta có thể nhận ra 3 người khách khá lớn tuổi kiên nhẫn ngồi tách biệt ở góc phòng.
Nhân viên của hãng bay đến trao cho họ chăn ấm và thẻ ăn để dùng trong thời gian chuyến bay bị trì hoãn.
Người đàn ông già đội mũ bê rê (Ông Ân) hỏi bâng quơ, “Có đồ ăn Việt ở đây không nhỉ?” Người phụ nữ (Bà Bích) ngước mắt ngạc nhiên nhìn ông Ân, cười tủm tỉm. Người đàn ông trong chiếc áo khoác dài (Ông Đức) cũng quay đầu nhìn và mỉm cười.
Vậy là họ làm quen. Chỉ câu nói đơn giản đó, mà cả ba người tự xích lại ngồi gần nhau. Cả 3 đều là người Việt Nam, cùng là người Huế thì đúng hơn.
-"Tình cờ gặp nhau, là cái duyên,” cũng ông già đội mũ bê rê nói lầm bầm. Không biết ông nói với chính mình hay nói với hai người bạn mới quen, nhưng cả hai người kia cũng mỉm cười gật gật đầu ra chiều thú vị lắm.
Ông Ân nói giọng Huế khá nặng, lâu lâu ông lại nói lầm bầm, không đủ lớn để làm phiền người chung quanh, nhưng vừa đủ để hai người bạn đồng hành nghe.
Ông kể về cuộc đời khổ cực của mình những năm chiến tranh, theo cha mẹ bỏ nhà cửa ở Quảng Trị vào Huế sinh sống.
Rồi chiến tranh cũng chấm dứt, nhưng cái khổ thì vẫn đeo đẳng. Không điện không nước, ông nhớ những ngày vừa cầm vở học vừa đứng xếp hàng dưới mưa để chờ mua tem phiếu thực phẩm là những bao Sắn khô, Khoai khô, Bo bo, còn Gạo chỉ là một “đùm” nho nhỏ như để làm hương hoa cho cái nồi vẫn được gọi là nồi “Cơm” (Vì không thấy Cơm đâu cả!)
Ông nhớ ngày cuối năm Mạ làm mâm cỗ để cúng ông bà, đợi cả ngày để được ăn miếng thịt, nhưng rồi tới khi được phép ngồi xuống ăn cùng gia đình trên chiếc chiếu trải trên thềm nhà nhỏ vì nhà lớn bị tịch thu do cha của ông làm việc cho chế độ cũ, thì nước mắt trào ra...
Ông không ăn được!
-“Vì sao vậy?” Người phụ nữ hỏi.
Vì không có thịt! Dĩa Ra-gu Mạ nấu, ngoài khoai tây, cà rốt, hành tây thì chỉ có mấy cục mỡ to có dính miếng da đằng sau, thịt chỉ là những đường lằn bé xíu. "Ngán lắm, không ăn được.” Ông lắc đầu chậm chậm, khẽ khàng từng chữ, mà nghe như có nước mắt vì nghẹn...


Thời đó, ông đi học chỉ vì không có việc chi khác để làm, và vì Mạ và các anh bắt đi học, chứ ông không tin rằng mình có thể vào đại học. Học xong lớp 12, bị kêu đi lính. Ông trốn vô Nam, “Đi học thì tụi nó chê “Nguỵ,” không cho. Còn đi lính vô chỗ chết thì “ưu tiên một”, ông có ngu đâu!”


Ông theo chân thằng bạn vào Nam, đi phụ xe chở gỗ bên Lào về Việt Nam. Cứ tưởng cuộc sống cứ vậy mà khấm khá lên, ai dè, có bữa xe bị tai nạn, thằng bạn chết.
Mất việc, ông đi lang thang, chưa biết tính sao cho tương lai mù mịt của mình thì gặp lại một thằng bạn hồi còn học trung học ngoài Huế. Hỏi “Mi làm nghề chi?”
-“Ăn trộm, nhưng không ăn cướp, hê hê hê.” Thằng bạn cười vô tư.
Hôm sau, lợi dụng lúc ban ngày, người ta đi làm, thằng bạn rủ ông cạy cửa vô một ngôi nhà trong xóm nó ở. Ông ngần ngừ, vì từ hồi nào tới giờ, tuy cực khổ, nhưng chưa bao giờ ông làm điều gì phạm pháp cả. Thằng bạn động viên, “Có gì đâu mà mày sợ. Mày chỉ “học việc” thôi, chỉ cần đứng ở ngoài trông chừng lỡ có ai về thì đôi cục đá vào cho tau biết.”
Nể bạn, ông đi theo. Đứng ngoài cửa sổ, ông nhìn vào thấy ngôi nhà tuềnh toàng, ít đồ dùng, còn thằng bạn thì ra vẻ chuyên nghiệp, xem trên ngó dưới, hai mắt láo liên, từ góc giường cho tới trên rầm nhà. Môt hồi, nghe thằng bạn nói nhanh, -“Đủ rồi, biến thôi!”
Thằng bạn hí hửng với cái túi chiến lợi phẩm: gồm cái máy nghe nhạc và một cái hộp nhỏ bằng nhôm, to bằng 3 ngón tay, giống như hộp đựng thuốc lá, (hay đựng thẻ tín dụng bây giờ.) Hắn xoay qua xoay về ngắm nghía cái máy nghe nhạc, rồi lại cầm cái hộp lên, “Tau chộp cái hộp vì ngoài ra chẳng có gì đáng giá cả. Với lại, cái hộp nhỏ chút, hy vọng có vài chiếc nhẫn vàng, chứ tiền thì để không vừa rồi, đúng không? Nhưng mà sao tao thấy nó nhẹ hều à!”
Ông cười, “Thì cứ mở ra coi là biết liền, đoán già đoán non làm chi mất công.” Thằng bạn ra vẻ ta đây rành chuyện “ăn trộm” lắm, nên khoát tay, “Thì không tin, mi cứ mở ra mà coi. Vàng thì phải nặng, tau đoán là cái hộp "không!”
Mở hộp ra, đúng là cái hộp “không" thật! Không có tiền hay Vàng, mà chỉ có vỏn vẹn tấm ảnh nhỏ xíu, úa vàng vì hơi ẩm của nước và bụi thời gian.
Đó là tấm ảnh của một cô bé cỡ khoảng 14, 15 tuổi, tóc ngắn xõa ngang vai, phía trước tóc mái rẽ sang hai bên. Cô mặc áo trắng (giờ đã ngã ra màu ngà), tay dài, có cổ cao lên như cổ áo dài, hai hàng nút gài phía trước, và các hạt nút là những cái bông được kết bằng sợi dây vải. Có thể đoán huy hiệu của trường ở bên góc áo bên phải, và phía sau tấm ảnh có ghi tên cùng ngày tháng, nó như thế này, “TNTN 1976- 1977”
Trong khi ông ngắm nghía bức hình, thì thằng bạn tỏ vẻ tức giận, chưởi thề luôn miệng, “ĐM. Có tấm hình mà cũng bày đặt bỏ trong hộp, biết vậy, đừng lấy mất công! Mi muốn làm chi với cái hộp thì tùy, còn tau tìm chỗ bán cái máy nghe nhạc đây!”


Ông cám ơn thằng bạn, rồi chào tạm biệt nó. Ông không đồng ý với cách sống của thằng bạn cũ, ông tìm con đường khác vậy. Ông lại xin đi phụ xe tải, nhưng kỳ này chỉ là xe chạy quanh thành phố Sài Gòn thôi. Chủ xe là cặp vợ chồng rất tốt bụng, cho ông chỗ ăn ở, đối xử như người trong nhà. Một hôm, lúc ông đang đứng xi-nhan cho tài xế quay xe, thì không ngờ phía sau lưng cũng có một xe tải đang “de”, tông vào ông. Ông té xuống bất tỉnh, người ta đưa ông vào nhà thương, họ nói là ông thật may mắn, vì ông chỉ bị trầy xước nhẹ, chứ lỡ xui xẻo, khi té mà cái đầu va vào thành xe thì cũng khó để toàn thân.
Ông nghĩ chắc là nhờ tấm ảnh đã đem cho ông may mắn chăng?
Mấy tháng sau, người chủ xe đó hỏi ông có muốn về dưới Cà Mau, phụ lái thuyền, vì họ có ý định dọn về dưới đó ở; mua thuyền bắt cá. Ông đồng ý ngay, ở đâu cũng giống nhau thôi mà, làm nghề trên sông biển cũng hay! Nhớ thời nhỏ ở Huế, được đi biển thích lắm.
Và rồi, một đêm tối trời, trong khi ông đang đi lang thang trên bãi biển, thì một nhóm người từ đâu không biết ùa ra, vừa chạy lúp xúp vừa la, “Chạy đi, chạy nhanh lên, theo hướng ngọn đèn ấy, tàu đang đợi ngoài kia.”
Ông có biết tàu bè gì đâu, nhưng bị mấy người kia la, rồi cuống quíu ông cũng chạy bừa theo họ. Rồi ông trèo lên chiếc Xuồng thúng. Rồi Xuồng to. Rồi Thuyền lớn. Rồi ông tới trại tị nạn Hong Kong! Đúng là nói không ai tin, nhưng đó là sự thật.


Tạm biệt quê hương, ông ra đi mà chẳng ai biết, ngay cả cha mẹ anh chị em, cũng chẳng tốn một đồng. Đúng là con người ta có cái số thật, và cái số của ông là số được “xuất ngoại!"
Ở trại tị nạn mấy tháng thì người ta cho ông qua Mỹ. Ông đoán là vì ông khai cha ông làm cho chính quyền miền Nam Việt Nam, chứ ông đâu có bà con gì ở Mỹ?
Ngày ông đặt chân tới Mỹ, hành lý vỏn vẹn chỉ có bộ đồ mặc trong người và… cái hộp nhôm có tấm ảnh của cô bé.
Ông đã không vứt nó như lời thằng bạn dặn, ngược lại đi đâu ông cũng mang theo bên người.
Ông cũng không biết vì sao ông muốn giữ bức hình, vì ghen tức với chủ nhân của nó chăng? Người ta có bạn, cớ sao ông chẳng có ai? Nếu vì ông nghèo, sống lây lất, cô đơn, không gia đình, thì ông mới chính là người cần có bạn hơn ai hết chứ?
Hễ khi nào thấy buồn, thì ông lại lấy tấm hình ra xem, ông nhìn và tưởng tượng ra đó là một cô bé, chắc là hay cười, thích làm điệu, và có phần nghịch ngợm nữa.
Bao năm qua, ông mang theo tấm hình của người con gái không quen, như một tấm bùa hộ mạng, như một niềm an ủi, như một ước mơ sâu thẳm…
“Như có một người bạn luôn bên mình," ông phân trần khi có ai hỏi.


Sau khi qua Mỹ, mặc dù cuộc sống thay đổi nhiều, ông đã có bạn, có công ăn việc làm, rồi ông bảo lãnh cho gia đình cha mẹ qua Mỹ, nhưng không vì thế mà ông quên tấm ảnh. Không biết từ bao giờ, ông có thói quen ngồi nhìn tấm ảnh và thổ lộ tâm tư thầm kín, từ những bức xúc ở chỗ làm, cho tới cả những lần bị bồ bỏ!!!
Ông có trở về Việt Nam vài lần, và lần nào, ông cũng tự hứa sẽ tìm lại chủ nhân của bức ảnh để trả lại, vì biết đâu, người đó cũng rất buồn vì mất nó.
Lần đầu tiên ông về, tìm gặp thằng bạn “ăn trộm”, giờ đã là giám đốc công ty xây dựng, nhà to cửa lớn, ông nhắc chuyện cái hộp nhôm và chiếc máy nghe nhạc. Nó chẳng nhớ gì cả, còn la ông sao lẩm cẩm, chuyện cả 40 năm rồi, “Buông bỏ bớt ba chuyện vớ vẩn cho nó nhẹ người ông à."
Sau đó ông có về thêm 2 lần nữa, nhưng hỏi ai người ta cũng bảo, “Tìm kim đáy biển!”
Gần đây, bác sĩ bảo ông bị bệnh, sợ ông không còn sống thêm được bao lâu nữa, nếu còn điều gì chưa làm được thì hãy ráng làm đi trước khi quá muộn. Ông muốn tìm cô gái- chủ nhân của tấm hình trong cái hộp nhôm, hoặc người đã được cô tặng nó để trả lại. Nhưng bằng cách nào, ông không biết!
Năm nay ông gần 80 rồi, có thể lần ông về Việt nam này là lần cuối, “Thử một lần nữa xem sao!”
Nghe người bạn bảo rằng, giờ đây nhờ Facebook nhiều người lạc nhau cả 50, 60 năm cũng tìm lại được, có thật không nhỉ?
Quay qua 2 người bạn mới quen, ông hỏi lại, “Ông bà có nghĩ vậy không? Tôi đoán ông bà cũng cỡ tuổi tôi thôi, mà bà là phụ nữ lớn lên ở thời đó, bà có tặng ai hình không?"
Bà Bích cười, “Thời đó khổ lắm, xin được tiền để chụp hình làm thẻ học sinh là nhứt rồi, làm chi có hình dư mà cho ai? Ông đưa tui coi, cô nớ học trường mô?”
Ông Đức đáp thủng thẳng, “Tui thì về Việt Nam kỳ này để dự họp mặt bạn bè cũ học đại học, tui sẽ ráng hỏi giúp ông. Còn chuyện Facebook thì nếu ông muốn, tui sẽ làm giúp cho ông một cái.”
Lục tìm trong túi áo, lôi ra cái hộp nhôm và lấy tấm ảnh đưa cho ông Đức, rồi ông ấy chuyền qua cho người phụ nữ. Tấm ảnh mờ quá, khó thấy được nét mặt, cũng khó đọc được tên của trường, nhưng tên và năm tháng phía sau thì khá rõ nét. Bà nhìn tấm hình mà thấy ngờ ngợ, nét chữ viết khó mà lầm được. Tư lự một hồi, bà nói, “Ông à, tui cũng không dám chắc, nhưng tui nghi là tui biết người trong ảnh. Ông cho tui số phone, để khi về Huế rồi, tui sẽ liên lạc với ông.”
Hôm sau, trời đẹp trở lại, máy bay được phép cất cánh. Ba người chia tay nhau, sau khi đã trao đổi thông tin cá nhân để sau này còn liên lạc.
Mấy hôm sau, ông Đức đi họp mặt bạn học đại học ở Huế, trong lúc chuyện trò với bạn bè đã nổi hứng kể lại câu chuyện của ông Ân, đi tìm người trong tấm ảnh từ hơn 50 năm trước. Ngờ đâu, có một người bạn reo lên, “Cậu nói thật không? Bởi vì hồi lâu, tình cờ trong một nhóm bạn cũ ở Facebook, tôi có thấy một người đăng tin bị mất ảnh và muốn chuộc lại, tụi mình làm “mánh” ni kiếm ít chai uống đi.”
Ông Đức gọi điện cho ông Ân, rồi gọi cho ông Nghĩa, người đăng tin tìm ảnh. Không biết sau đó ông Ân và ông Nghĩa đã nói chuyện gì với nhau, nhưng một điều chắc chắn là cả ba ông sẽ tham dự một buổi tiệc được tổ chức tại khách sạn lớn vào cuối tuần. Khách mời được yêu cầu phải mặc Veston.
Buổi tối hôm đó là một buổi tối thật đặc biệt, chỉ khoảng 20 người, toàn là bạn học cũ lớp 9.
Sau khi ông Ân người đàn ông thích đội mũ Bê rê, tự giới thiệu về mình, và nguyên nhân của buổi tiệc, “Xin hoàn trả lại tấm ảnh tui đã mạo muội lấy cắp từ 50 năm trước,” thì ông Nghĩa, là người bị mất ảnh, nói lời cám ơn, và tiếp, “Còn có một điều bất ngờ nữa tui muốn dành cho ông, đó là cô bé trong bức hình cũng có mặt trong buổi tiệc tối nay!”
Ông già đội mũ Bê rê có phần sững sờ, khựng lại, “Ông không đùa đó chứ?”
Ông nghe người ta gọi tên TNTN và rồi một người phụ nữ tiến tới phía bàn của ông.
Đó chính là người phụ nữ đã bị trì hoãn chuyến bay cùng ông! “A, sao bà không nói cho tui biết lúc đó?” Ông cười bẽn lẽn.
- “Tui chỉ nghi nghi, đoán qua tên ghi đằng sau, chứ bức hình cũ quá, mất hết nét, nhìn không ra. Ngay trước lúc đến dự tiệc tối nay, tui cũng vẫn không biết ai là người bị lấy mất ảnh ông à.”
Lúc này thì ông Nghĩa mới nhìn bà Bích, nói nhỏ, “Tui tự lấy bức hình của bà trong cuốn học bạ lúc giúp Thầy chủ nhiệm ghi sổ cuối năm!”
Rồi ông nháy mắt cười.


Buổi tiệc buffet thật là vui. Những ông lão bà lão xấp xỉ 80 nhắc lại kỷ niệm thuở còn đi học, chính xác là 60 năm từ ngày họ xa nhau, niên khoá 1976-1977. Phần lớn họ vẫn còn rất minh mẫn, nhưng riêng bà Bích thì dường như lúc nhớ lúc quên! Ông Nghĩa là người đầu tiên để ý đến điều đó, lâu lâu, ông lại quay qua hỏi bà, “Có thật bà không nhớ chuyện bức ảnh không?” Thì bà nhìn vào mắt ông trả lời ngay, “Không, tôi không nhớ thiệt mà. Tôi không hiểu ông lấy bức ảnh lúc nào, còn nhìn bức hình thì không cách chi đoán ra được vì nó bị hoen ố và bay nước thuốc rồi. Chỉ có tên và năm ghi đằng sau là thấy quen thôi.”
Sau buổi tối đó, họ còn hẹn gặp nhau thêm vài lần nữa để uống cà phê và đi thăm một vài người quen cũ không đi dự họp mặt được. Ông Nghĩa có hỏi dò mấy người bạn trong nhóm, cùng học chung với bà Bích, “Này, mấy ông có thấy bà Bích hơi khác khác, sửng sửng không? Có cái bà ấy nhớ, có cái bà ấy quên, có khi thấy đang vui thì tự nhiên ngồi ngây người ra như đang ở trên mây ấy!”
-“Bà có sao không, chứ tui thấy bà hơi lạ. Lâu nay ở bên đó có đi bác sĩ thường không?” Ông Nghĩa hỏi lại bà Bích lần cuối, hôm trước khi họ chia tay.
Bà Bích cười như trẻ con, “Khoẻ như voi, không khoẻ mà về tới được đây à? Hỏi vô duyên!”
Thời gian ngắn sau thì ông được tin ông Ân mất ở Mỹ.
Mấy tháng sau, ông nhận được thư từ cô con gái của bà Bích, “Cậu à, mẹ con bị bệnh Alzeihmer, bệnh mất trí nhớ, mới mấy tháng thôi, nhưng giờ không còn nhớ ai cả. Tụi con cố gắng chăm sóc ở nhà, nhưng giờ thì phải đưa vào viện dưỡng lão, vì để ở nhà nguy hiểm quá, có lần bà tự trèo qua cổng, rồi đi lạc, bà sợ nên trốn dưới cống, tụi con phải gọi cảnh sát, cứu thương, cứu hoả, và cả những người tự nguyện, may nhờ mấy chú Chó nghiệp vụ mới tìm ra đó.”
Bùi ngùi nghe tin bạn bệnh, ông Nghĩa chợt hiểu ra lý do vì sao bà Bích không nhớ gì về bức hình ngày xưa…
Một buổi tối, khó ngủ, ông ngồi xuống bàn computer, chậm rãi ông gõ…
"Chuyện 60 năm chừ mới kể.
Hồi đó, tui với Nàng học chung lớp, ở chung xóm. Đi học tui rủ Nàng đi cùng. Nàng huyên thuyên đủ chuyện trên đường đi học. Tui im nghe, chỉ cười.
Năm 1978, nhà tui đi kinh tế mới.
Ngày tui đi, mấy đứa bạn cùng xóm đạp xe ra bến xe An Cựu đưa tiễn, trong đó có Nàng. Khi chia tay, Nàng tặng tui cái khăn nhỏ có gói cái chi trong đó nữa. Xe chạy xa, tui ngoái đầu nhìn lại, thấy đám bạn trai khua khua tay, hò hét, có đứa đứng lên trên cái yên sau xe đạp giơ cao hai tay lắc lắc. Còn Nàng trông thật bé bỏng, đưa bàn tay nhỏ xíu, vẫy vẫy, rồi dụi dụi vô mắt..., “Chắc là do bụi với khói xe cay mắt," Tui nghĩ rứa.
Xe đi được một lúc, tui mở khăn ra coi, thấy tấm hình của Nàng, loại hình để làm thẻ học sinh, đen trắng, chung quanh nàng viền bằng chỉ thêu rất đẹp, chừa lại hình trái tim là khuôn mặt Nàng, xinh xắn. Tui lâng lâng, lâng lâng…
Vô vùng kinh tế mới, ngày ngày tui đạp xe 9km đến trường. Luôn mang theo tấm hình của Nàng trong cặp, vì sợ để ở nhà, nhà tranh vách lá, mưa dột, bơ hư thì răng?
Có bữa lục lọi trong cặp, tấm hình Nàng rớt ra, mấy đứa con gái cùng lớp lượm lên, hỏi ai đây. Tui nói là người yêu tui ở ngoài Huế. Tụi nó tròn xoe mắt, thán phục.
Hàng tuần, chiều thứ Bảy, tui theo ba tui đạp xe vô rẫy cách nhà hơn 20 km. Tối ở lại rẫy, ngày mai còn làm tiếp. Đêm rừng âm u, mưa rả rích, buồn, cô đơn. Nhớ Huế. Nhớ mấy đứa bạn cùng xóm. Nhớ Nàng. Tui mở hình Nàng ra coi, thấy vui vui…
Năm 1980, tui thi đậu Đại học Sư phạm, lên Sài Gòn học, phải ở ký túc xá. Tui bỏ hình Nàng cùng với thư của Nàng gởi cho tui 2 năm qua, rất nhiều thư, vào một cái hộp giấy, cất kỹ trên gác, chỗ gần mái tranh còn mới, không thể bị dột.
Nhà cách Sài Gòn hơn 100km. Mỗi năm tui chỉ về nhà có một lần vào dịp Tết, do không có tiền mua vé về thường được, còn hè thì phải ở lại dạy kèm kiếm thêm tiền.
Một lần về nhà, tui phát hiện có một đường đi của bọn Mối lên chỗ tui để cái hộp. Hoảng hồn, tui leo lên coi, thấy Mối xông đầy cái hộp. Lật đật mở ra, ui chao, toàn bộ thư của nàng bị Mối ăn gần hết. Kỳ lạ thay, tấm hình Nàng vẫn còn nguyên vẹn. Tươi xinh. Lạ hè, hay là bọn Mối thấy nàng đẹp quá, để dành ngắm. Hay là răng? Tui không biết…
Lần ni, cẩn thận hơn, tui kiếm được cái hộp bằng nhôm đựng thuốc hút, (mặc dù tui không hút thuốc), bỏ tấm hình vô đó rồi đem cất vô ngăn trên cùng của cái tủ sắt.
Năm 1984, ra trường, tui được phân về dạy tại một trường cấp 3 một huyện miền núi. Trường cách nhà khá xa. Tui phải ở ké nhà ông anh gần trường, trên căn gác gỗ.
Một bữa, tui đi dạy, ông anh đi làm, trộm vô viếng nhà. Tui không có chi, chỉ có cái rương đựng sách vở, bên trong có cái hộp và cái máy cassette nghe nhạc nhỏ nhỏ do một thằng bạn du học bên Đông Đức gởi về cho. Trộm lấy cái máy nhạc và cái hộp có tấm hình của Nàng. Quái, cái máy nhạc thì trộm lấy đã đành, chơ đáng giá chi cái hộp đựng thuốc mà hắn lấy của tui? Không lẽ thằng ăn trộm cũng thấy Nàng đẹp? Lạ chưa tề!


Thời gian trôi qua, cũng hơn 30 năm sau, (2008) tui mới bắt lại được liên lạc với Nàng. Rồi nhân dịp kỷ niệm 40 năm xa trường (2017) bọn tui có gặp lại nhau. Nàng chừ lấy chồng xa, gia đình hạnh phúc. Tui có vợ, 2 con, một trai, một gái đã trưởng thành, đề huề cả. Gặp nhau, chuyện trò vui vẻ.
Năm nay 2038, cả nhóm bạn cũ nhứt định làm 60 năm hội ngộ ở Huế, mời Nàng về dự.
Trong lúc đang chuẩn bị cho hội ngộ, tui nhận được một cú điện thoại thật bất ngờ từ Đức, thằng bạn học đại học. Hắn bảo rằng, có người muốn gặp tui để trao lại tui tấm ảnh, bởi vì hồi lâu nghe tui có đăng trên Facebook nhờ tìm tấm hình cũ bị mất trộm. Không biết thực hư ra sao, nhưng quá tò mò, tui quyết định lấy số điện thoại của người đó để hỏi cho ra ngọn ngành.
Tui mời ông Ân, và thằng Đức cùng tham dự buổi hội ngộ với nhóm bạn để gặp Nàng-Người đẹp trong hình luôn một thể, nhưng tui đã bí mật sắp xếp để Nàng xuất hiện sau vì muốn tạo sự bất ngờ.
Họ đã bị bất ngờ thật! Khi tui gọi Nàng đến, không ngờ cả ba đã gặp nhau trên đường về Việt Nam!
Nàng vẫn điệu đàng như xưa dù bây giờ đã 75 tuổi, chỉ có điều Nàng không nhớ gì về bức hình cả. Lúc đó tui không hiểu làm sao Nàng lại không nhớ đã tặng tui bức hình, khiến tui hơi buồn. Nhưng chừ biết lý do Nàng bị bệnh, thì tui không còn buồn nữa, mà trái lại. Bởi vì mô chừ tui sợ nhứt là Nàng hỏi, “Bức hình mô rồi?” Tui lo lắm, ơn may Phật trời nghe được lời cầu nguyện của tui, đã cho tui tìm lại được bức hình, trước lúc Nàng có cơ hội để “tra vấn” tui. Coi như cất đi một gánh nặng đè trong lòng tui bao năm qua!!!
Cám ơn ông Ân, thằng bạn Đức và cả những người bạn Facebook đã tạo cơ duyên cho tui có lại bức hình. Không ngờ Facebook hoạt động hiệu quả đến vậy! Cách đây mấy tháng, lúc tui viết bài đăng lên Facebook, “Chỉ mong Ngài ăn trộm mô còn giữ tấm hình, cho tui chuộc lại, tốn mấy tiền cũng được, tui xin đội ơn,” tui đâu có ngờ có ngày nó trở thành sự thật?
Giờ đây ông Ân đã qua đời vì bệnh, cô bạn nhỏ ngày xưa Bích mất trí nhớ, còn tui đây, nhìn lại tấm hình, nghĩ chuyện đời …
Cái Nàng cho tui, nhưng tui không giữ được, ông Ân, một người không quen biết, không liên hệ dây mơ rễ má chi trơn, lại có nó suốt cuộc đời! Ai có thể lý giải dùm tui sự kỳ diệu của cuộc đời ni?"

Minh Nguyệt Graves
Austin, Texas
Tháng 5/2018

 

 

 

Tháng 11, 2018

Tháng 10, 2018

Tháng 9, 2018

Tháng 8, 2018

Tháng 7, 2018

Tháng 6, 2018

Tháng 5, 2018

Tháng 4, 2018

Tháng 3, 2018

Tháng 2, 2018

Tháng 1, 2018

Tháng 12, 2017

Tháng 11, 2017

Tháng 10, 2017

Tháng 9, 2017

Tháng 8, 2017

Tháng 7, 2017

Tháng 6, 2017

Tháng 5, 2017

Tháng 4, 2017

Tháng 3, 2017

Tháng 2, 2017

Tháng 1, 2017

 

Bài viết từ 2016 trở về trước

Bài vở , hình ảnh, dữ liệu đăng trên trang nhà của Y Khoa Huế Hải Ngoại (YKHHN) hoàn toàn có tính thông tin hay giải trí. Nội dung của tất cả bài vở, hình ảnh, và dữ liệu này do tác giả cung cấp, do đó trách nhiệm, không nhất thiết phản ánh quan điểm hay chủ trương của trang nhà YKHHN.
Vì tác quyền của mọi bài vở, hình ảnh, dữ liệu… thuộc về tác giả, mọi trích dịch, trích đăng, sao chép… cần được sự đồng ý của tác giả. Tuy luôn nỗ lực để độc giả được an toàn khi ghé thăm trang nhà YKHHN, chúng tôi không thể bảo đảm là trang nhà này hoàn toàn tránh được các đe dọa nhiễm khuẫn hay các adwares hay malwares… Vì chúng tôi không thể chịu trách nhiệm cho những tổn hại nếu có, xin quý độc giả cẩn trọng làm mọi điều có thể, ví dụ scanning, trước khi muốn sao chép, hoặc/và tải các bài vở từ trang nhà YKHHN xuống máy của quý vị.